Thói quen sử dụng sữa bò có từ khi nào vẫn chưa rõ ràng, nhưng người ra đã tìm ra bằng chứng về việc làm phomai từ 7200 năm trước tại nam châu Âu. Ngày nay sữa được sử dụng phổ biến, nhiều cộng đồng dân cư như những nước bắc Âu có trên 90% dân số sở hữu enzym tiêu hóa lactose trong sữa. Sữa bò là loại thực phẩm có thành phần dinh dưỡng đa dạng với 3,4% đạm hoàn chỉnh, 3,7% chất béo, 4.8% lactose và các loại vitamin- khoáng, dưỡng chất trong sữa bò và sữa mẹ là giống nhau- chỉ khác nhau về tỷ lệ. Vì vậy, thật ngạc nhiên khi sữa đang bị phán xét về tính tính “hợp tự nhiên”, tính an toàn và nguy cơ sức khỏe.

Link bài viết được chia sẻ khá nhiều trong cộng đồng chay và thực dưỡng: https://www.facebook.com/watch/?v=263306617847816
*Tôi đã bỏ qua những luận điểm về tính tự nhiên- như “nếu sữa bò là tự nhiên vì sao phải thanh trùng mà không uống trực tiếp” khiến tôi ko còn hứng thú giải thích về tính “tự nhiên” nữa. Việc tạo ra quy trình thanh trùng sữa ở những năm 1860 của Pasteur là một bước tiến lớn giúp giảm nguy cơ nhiễm khuẩn và giúp sữa bò được bảo quản, phân phối đi khắp nơi trên thế giới, đó là một bước tiến dài giúp góp phần đưa sữa bò trở thành một trong những nguồn dinh dưỡng chất lượng cao rẻ tiền và phổ biến nhất thế giới. Và tất nhiên: sữa-bò-có-thể-uống-trực-tiếp!!!

Những lo ngại được đưa ra về nguy cơ sức khỏe chia làm 2 nhóm: 1 là về quản lý chất lượng sản xuất, 2 là những nguy cơ mắc bệnh khi sử dụng sữa. Những nguy cơ chính ở đây là: Ung thư, dậy thì sớm, mất xương, tăng nguy cơ Parkinson.
Sữa bò và ung thư:
Theo tổ chức quỹ nghiên cứu ung thư thế giới: không có bằng chứng thuyết phục nào cho thấy sữa làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư, bao gồm cả các loại ung thư nhạy cảm với hormon như ung thư vú, buồng trứng, tuyến tiền liệt. (1)

Một nghiên cứu tổng quan về mối quan hệ giữa tiêu thụ sữa và các sản phẩm của sữa với ung thư, nghiên cứu tổng hợp từ 42 nghiên cứu từ năm 1991- 2017 đã đưa ra kết luận không có bằng chứng về mối liên quan giữa tiêu thụ sữa và tỷ lệ mắc ung thư. (2)
Những nguyên nhân chính về dậy thì sớm đều đến từ lo ngại của dư lượng hormon như: các yếu tố tương trưởng IGF-I, estrogen hay rBST(hormon tự nhiên tăng tiết sữa của bò- hormon này được chứng minh là không có tác dụng trên người). (3)
Khoảng 90% hormon bị bất hoạt ở quá trình chuyển hóa gan- ruột, và với việc tiêu thụ 3 ly sữa/ngày chỉ làm thay đổi 0,001%-0,1% tỷ lệ sản xuất estrogen nội sinh của cơ thể. (4)
IGF-là 1 hormon tự nhiên cần thiết cho sự tăng trưởng, IGF-I có thể tăng lên khi ăn bất cứ 1 nguồn protein nào, kể cả động vật hay thực vật, vậy nên những lo ngại về tồn dư hormon có vẻ không thuyết phục.
Sữa bò và nguy cơ mất xương: Sữa bò cung cấp canxi và phospho- cần thiết cho việc taọ xương và duy trì khối lượng xương, lượng canxi trong sữa bò không nhiều, trong 1 ly sữa bò chỉ có khoảng 300mg Calcium- chỉ khoảng 20-25% yêu cầu hàng ngày, ngoài ra, để tăng tỷ lệ hấp thu canxi, cần cung cấp đủ vitamin D. Vì vậy nếu cung cấp lượng canxi đơn độc hàng ngày mà thiếu vitamin D, cơ thể sẽ không thể hấp thu tốt. Như vậy, sữa là nguồn cung cấp canxi và phospho dễ hấp thu, tuy nhiên phải kết hợp với chế độ ăn đủ dinh dưỡng và không thể thiếu vitamin D. Điều này chẳng liên quan gì đến việc sữa bò gây mất xương và gãy xương cho phụ nữ như trích.
Nguy cơ Parkinson có lẽ đến từ nghiên cứu (5): Tuy nhiên số lượng người mắc Parkinson là rất ít (60 người trên 5830 người tiêu thụ ít nhất 3 khẩu phần sữa tách béo/ ngày- khoảng 1%) so với người dùng ít hơn 1 khẩu phần/ngày (0,6%) không có lời giải thích nào hợp lý cho việc sữa là yếu tố làm tăng nguy cơ Parkinson, thay vào đó, có thể Parkinson mới là nguyên nhân thay đổi thói quen ăn uống của nhóm này.
Như vậy, sữa và những chế phẩm từ sữa là an toàn, những lợi ích sức khỏe của nó vượt xa những lo ngại không rõ ràng. Chính Hội đồng ung thư, USDA đã khuyến nghị nên sử dụng 3 khẩu phần sữa và các sản phẩm của sữa mỗi ngày. Chúng ta hoàn toàn có thể sử dụng sữa như một nguồn dinh dưỡng hàng ngày- miễn bạn không gặp vấn đề nghiệm trọng do dị ứng với bất kỳ thành phần nào của sữa( rất hiếm gặp).